XẠ TRỊ UNG THƯ VÚ | PHẦN I: CÁC CHỈ ĐỊNH

Ngày 2022-09-18 22:02:41 Ban Biên tập Lượt xem : 17

1. Chỉ định của xạ trị

1.1. Xạ trị tuyến vú sau phẫu thuật bảo tồn tuyến vú

- Xạ trị toàn bộ tuyến vú được chỉ định một cách hệ thống sau phẫu thuật lấy rộng u (Tumorectomy). Xạ trị bổ trợ sau mổ có ý nghĩa tăng tỷ lệ kiểm soát bệnh tại chỗ đối với tất cả các phân nhóm bệnh nhân, bao gồm những người có nguy cơ thấp (trên 70 tuổi, giai đoạn pT1N0, phẫu thuật đạt R0, thụ thể nội tiết dương tính).

- Xạ trị một phần tuyến vú: Xạ trị một phần tuyến vú trong mổ, cho đến nay, chưa được khuyến cáo chỉ định ngoài khuôn khổ các thử nghiệm lâm sàng sau những kết quả bất lợi từ 2 nghiên cứu ngẫu nhiên (tăng số ca tái phát tại chỗ ở nhánh xạ trị trong mổ).

- Đối với các ung thư thể ống tại chỗ:

+ Sau cắt tuyến vú: Không có chỉ định xạ trị bổ trợ tại thành ngực.

+ Sau phẫu thuật lấy rộng u: Xạ trị bổ trợ toàn bộ tuyến vú được khuyến cáo thực hiện thường quy với liều 45-50 Gy. Liều tăng cường (boost) tại giường u chưa cho thấy cải thiện kết quả kiểm soát tại chỗ, tuy nhiên, nên được xem xét trên từng ca cụ thể tuỳ theo những yếu tố tiên lượng nguy cơ tái phát tại chỗ khác.

1.2. Xạ trị thành ngực sau cắt tuyến vú

- Xạ trị được chỉ định trong các trường hợp:

+ Khối u cT3-T4

+ Di căn hạch nách (những trường hợp được vét hạch nách)

+ Phẫu thuật không đạt được R0.

- Chỉ định xạ trị cần được thảo luận với các khối u pT1-T2 pN0 R0 khi hiện diện một hoặc nhiều yếu tố “bất lợi” sau: Độ mô học 3 theo Scarff, Bloom và Richardson, bệnh nhân trẻ tuổi (dưới 40), tắc mạch quanh u trên vi thể do tế bào u, tăng bộc lộ HER2 (+++), thể bộ ba âm tính, đa ổ.

- Với những bệnh nhân được sinh thiết hạch cửa trước cắt tuyến vú, chỉ định xạ trị được khuyến cáo cho trường hợp có di căn hạch cửa nhưng không được vét hạch nách bổ sung sau đó. Vai trò của xạ trị chưa được kiểm chứng rõ ràng cho những trường hợp vi di căn hạch cửa.

- Với những bệnh nhân đã được điều trị tân bổ trợ, chỉ định xạ trị bổ trợ sau mổ tại thành ngực được đặt ra khi:

+ Có di căn hạch nách trên bệnh phẩm sau mổ (ypN+)

+ Đã dự kiến xạ trị sau mổ với những thông tin đã có trước khi điều trị (u cT3-T4, di căn hạch nách…).

1.3. Xạ trị các vùng hạch

1.3.1 Hạch nách

- Sau vét hạch nách, hạn chế chỉ định xạ trị (do làm tăng nguy cơ phù bạch huyết), cần được thảo luận cho từng trường hợp dựa trên mức độ di căn hạch (số lượng, kích thước, phá vỡ vỏ hạch…), “chất lượng” của vét hạch (dưới 10 hạch được xem là một yếu tố cần xem xét chỉ định xạ trị bổ trợ).

- Với các trường hợp không vét hạch nách:

+ Hạch cửa “âm tính”: Không có chỉ định xạ trị

+ “Vi di căn” hạch cửa (đám tế bào u dưới 2 mm, phát hiện với nhuộm hoá mô miễn dịch – pN0(i+)): Không có chỉ định xạ trị

+ Di căn (macrometastasis) hạch cửa: Cân nhắc chỉ định xạ trị

+ Không sinh thiết hạch cửa: Thảo luận chỉ định xạ trị cho từng bệnh nhân cụ thể, tuỳ theo các yếu tố dự báo nguy cơ di căn hạch.

1.3.2. Hạch hạ đòn và thượng đòn

- Xạ trị dự phòng tại vùng hạch thượng đòn có thể được chỉ định một cách hệ thống cho những trường hợp di căn hạch nách (sau vét hạch nách) hoặc di căn hạch cửa (macrometastasis) không được vét hạch nách bổ sung sau đó.

- Cần chú ý tính đến những khu vực mà vét hạch có thể chưa “vươn tới” như chặng II và III của Berg (căn cứ vào vị trí các clip được đặt trong mổ để xác định giới hạn của vét hạch và biên bản cách thức phẫu thuật) và vùng hạch thượng đòn.

- Xạ trị vùng hạch thượng đòn có thể dẫn đến tăng thể tích nhu mô phổi nằm trong trường chiếu xạ, do đó, cần chú ý đến giới hạn liều cho phổi cùng bên (ngưỡng V20 dưới 30% được chấp nhận rộng rãi trên thực hành lâm sàng).

*NCCN khuyến cáo xạ trị các vùng hạch thượng đòn, hạ đòn và hạch nách khi di căn ≥ 4 hạch nách (Mức độ 1) và di căn 1-3 hạch (Mức độ 2).

1.3.3. Hạch vú trong

Quyết định có hay không xạ trị hạch vú trong cần dựa trên việc xem xét thận trọng cả hai khía cạnh lợi ích và nguy cơ.

- Rất khó để có thể chỉ ra những phân nhóm bệnh nhân cụ thể nào sẽ nhận được lợi ích từ xạ trị hạch vú trong. Quyết định chỉ định xạ trị cần xét đến tổng hoà các yếu tố dự báo nguy cơ di căn hạch vú trong bao gồm: Tình trạng di căn hạch nách, khối u vú (vị trí, giai đoạn T), tuổi bệnh nhân.- Khi thực hiện xạ trị hạch vú trong, nguy cơ độc tính đến tim cần được đặc biệt chú ý. Thông số được xem là tốt nhất để đánh giá là liều xạ trung bình tại tim, không nên vượt quá 5 Gy. Bên cạnh đó, những điều trị phối hợp có thể ảnh hưởng đến tim (hoá trị, trastuzumab…) cũng như tình trạng bệnh lý tim mạch kèm theo của bệnh nhân cần được tính đến. Với những bệnh nhân có sử dụng Trastuzumab, liều xạ trung bình tại tim không nên vượt quá 3 Gy.

2. Liều và phân liều

2.1. Xạ trị tuyến vú sau phẫu thuật lấy rộng u

- Tổng liều trên toàn tuyến vú được khuyến cáo: 45-50 Gy.

- Liều tăng cường (boost) vào giường khối u 10-16 Gy được thực hiện sau xạ trị toàn tuyến vú.

- Phân liều chuẩn: 1,8 – 2 Gy/phân liều, 5 phân liều/tuần, trong 5 tuần

- Chiến lược giảm số phân liều (Hypofractional Radiotherapy) được đề xuất cho những bệnh nhân trên 50 tuổi, khối u xếp loại T1-2 pN0, thụ thể nội tiết dương tính, độ mô học thấp-trung bình, không có tắc mạch quanh khối u trên vi thể và diện cắt không còn tế bào ung thư – R0 (nhóm bệnh nhân có tiên lượng chung tốt và dự báo nguy cơ tái phát tương đối thấp). Ngược lại, phương pháp xạ trị này không được khuyến cáo dành cho những trường hợp có chỉ định hoá trị bổ trợ, hay sau cắt tuyến vú hay có kèm theo xạ trị vùng hạch. Một điểm cần lưu ý nữa khi lựa chọn chiến lược xạ trị giảm số phân liều, những dữ kiện y văn hiện tại chưa cho phép kết luận lợi ích cũng như cách thức thực hiện tối ưu (liều, phân liều) của liều tăng cường (boost) vào vị trí giường u.

- Những kế hoạch trải liều sau có thể lựa chọn trong chiến lược giảm số phân liều:

+ 42,5 Gy / 16 phân liều trong 22 ngày, phân liều 2,66 Gy

+ 41,6 Gy / 13 phân liều trong 5 tuần, phân liều 3,2 Gy

+ 40 Gy / 15 phân liều trong 3 tuần, phần liều 2,66 Gy

- Cùng với việc tăng liều xạ trong mỗi phân liều, bác sỹ xạ trị cần có sự chú ý đặc biệt hơn đến nguy cơ độc tính tại tim, phổi, cũng như đảm bảo phân bố liều đủ trên toàn bộ thể tích bia.

2.2. Xạ trị thành ngực

- Khuyến cáo dựa trên những dữ liệu tiến cứu hiện nay: tổng liều 45-50 Gy với phân liều chuẩn.

- Chưa có các dữ liệu từ thử nghiệm lâm sàng liên quan đến xạ trị giảm số phân liều cho những trường hợp sau cắt tuyến vú.

2.3. Xạ trị các vùng hạch

- Khuyến cáo dựa trên những dữ liệu tiến cứu hiện nay: tổng liều 45-50 Gy với phân liều chuẩn.

- Chưa có các dữ liệu từ thử nghiệm lâm sàng liên quan đến xạ trị giảm số phân liều tại các vùng hạch trong ung thư vú.

-----Nguồn bài viết từ website: ungthuhoc.vn-------

Đăng ký khám, tư vấn

Tại sao nên chọn bệnh viện đa khoa Nguyenvanthai

Bệnh viện đa khoa nhiều năm kinh nghiệm.
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Cơ sở vật chất hiện đại
Áp dụng thanh toán bảo hiểm y tế lên tới 100%
Quy trình khám chữa bệnh nhanh chóng
Chi phí khám chữa bệnh hợp lý.

Tin cùng chuyên mục

QUẢN LÝ VÀ THEO DÕI POLYP TÚI MẬT

Chiến lược quản lý polyp túi mật tối ưu vẫn là một ẩn số trên thực hành lâm sàng. Polyp túi mật được phát hiện khá thường xuyên ở người trưởng thành qua siêu âm ổ bụng. Mặc dù ung thư túi mật không phải là một chẩn đoán thường gặp, chẩn đoán sớm là điểm mấu chốt quyết định cơ hội điều trị thành công, khi tiên lượng bệnh trở nên rất xấu ở giai đoạn tiến triển.
Ngày 2022-09-30 20:49:46

U CARCINOID LÀ GÌ

U carcinoid là u có nguồn gốc từ các tế bào thần kinh nội tiết và chuyển dạng từ các tế bào gốc nguyên thủy ở thành ruột, tuy nhiên chúng có thể xuất phát từ các cơ quan khác như: phổi, trung thất, tuyến ức, gan, tụy, phế quản, buồng trứng, tuyến tiền liệt, và thận.
Ngày 2022-09-29 23:13:23

UNG THƯ BIỂU MÔ ĐƯỜNG BÀI XUẤT VÙNG ĐÀI BỂ THẬN VÀ NIỆU QUẢN

Ung thư đang là một thách thức sức khỏe toàn cầu. Theo GLOBOCAN 2018, ung thư là 1 trong 2 nguyên nhân thường gặp nhất gây tử vong trước tuổi 70 ở 91 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam [1]. Trong đó, ung thư biểu mô đường bài xuất hệ tiết niệu (gọi tắt là ung thư đường bài xuất) vùng đài bể thận và niệu quản không phải là một loại ung thư biểu mô thường gặp, tuy chi chiếm 5% số ca ung thư biểu mô đường niệu tại Hoa Kỳ nhưng đang có xu hướng tăng trong thời gian gần đây.
Ngày 2022-09-29 00:33:54

SINH THIẾT HẠCH CỬA TRONG UNG THƯ VÚ

Hạch cửa được định nghĩa là những hạch bạch huyết đầu tiên nhận dẫn lưu bạch huyết từ khu vực khối ung thư nguyên phát, do đó, có nguy cơ cao nhất các tế bào ung thư di căn đến theo đường bạch mạch. Hiện nay, sinh thiết hạch cửa (STHC) là phương pháp khảo sát tình trạng hạch nách được khuyến cáo đối với những trường hợp giai đoạn sớm (T1/T2 đơn ổ và không nghi ngờ di căn hạch nách trên lâm sàng).
Ngày 2022-09-27 00:29:31

CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG SAU MỔ UNG THƯ TẾ BÀO GAN NGUYÊN PHÁT | PHẦN II

Số bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm HBV đã tăng lên 280 triệu trên toàn thế giới [11]. Nhiễm HBV là một yếu tố nguy cơ của HCC [27] và cắt gan là phương pháp điều trị triệt căn của bệnh lý này. Trong y văn, đã có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ của tái phát sau cắt gan do HCC ở các bệnh nhân HBV dương tính nhưng vẫn chưa đánh giá tình trạng nhiễm virus trong hầu hết nghiên cứu. Hơn nữa, đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân có tình trạng nhiễm virus khác nhau.
Ngày 2022-09-25 22:11:12

CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG SAU MỔ UNG THƯ TẾ BÀO GAN NGUYÊN PHÁT | PHẦN I

Ung thư tế bào gan nguyên phát (Hepatocellular carcinoma: HCC) là một trong 5 loại ung thư hay gặp nhất. Nguyên nhân gây bệnh thực sự đến nay vẫn chưa được sáng tỏ. Tuy nhiên qua quan sát thực tế và nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho biết có nhiều yếu tố liên quan tới HCC như xơ gan, viêm gan virus B, viêm gan virus C, sán lá gan, rượu, thuốc lá, chất Aflatoxin bài tiết từ nấm Aspergillus flavus (có trong lạc, ngô, mì bị mốc), chất phóng xạ (Dioxyde de thorium), Dioxine.
Ngày 2022-09-24 21:42:20