XẠ TRỊ UNG THƯ VÚ | PHẦN II: THỰC HÀNH XẠ TRỊ BỔ TRỢ SAU CẮT TUYẾN VÚ

Ngày 2022-09-19 22:17:41 Ban Biên tập Lượt xem : 20

Nội dung cập nhật tập trung chủ yếu  giải quyết các câu hỏi lâm sàng sau:

1. Hướng dẫn chỉ định xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến vú cho những trường hợp ung thư vú T1-2, có 1-3 hạch di căn trên kết quả giải phẫu bệnh sau mổ.

2. Hướng dẫn chỉ định xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến vú cho những trường hợp ung thư vú đã trải qua điều trị tân bổ trợ.

3. Hướng dẫn thực hành xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến vú, đặc biệt về quyết định thể tích xạ trị các chặng hạch vùng.

Câu hỏi lâm sàng 1: Chỉ định xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến vú có cần thiết cho những trường hợp ung thư vú T1-2 có 1-3 hạch di căn trên kết quả giải phẫu bệnh sau mổ?

Các chuyên gia đồng thuận với các dữ liệu bằng chứng hiện tại cho thấy xạ trị bổ trợ sau mổ cắt tuyến vú giúp giảm nguy cơ xuất hiện các tổn thương tái phát tại thành ngực và các vị trí hạch vùng, cũng như tái phát di căn xa (Loại khuyến cáo: Dựa trên thực chứng; Chất lượng bằng chứng: Cao; Mức độ khuyến cáo: Mạnh).

Tuy nhiên, ở một số dưới nhóm bệnh nhân với nguy cơ thấp tái phát tại chỗ – tại vùng, những lợi ích trên có thể không tương xứng với nguy cơ gánh chịu những tác dụng phụ của xạ trị bổ trợ (Loại khuyến cáo: Dựa trên thực chứng; Chất lượng bằng chứng: Trung bình; Mức độ khuyến cáo: Mạnh).

Bác sĩ lâm sàng quyết định thực hiện hay không xạ trị bổ trợ cho một trường hợp cụ thể sau khi xem xét một cách toàn diện các yếu tố có ý nghĩa dự báo khả năng tái phát ung thư vú tại chỗ – tại vùng thấp, hay nói cách khác, các yếu tố cho thấy xạ trị bổ trợ được dự báo có nhiều nguy cơ độc tính cho người bệnh hơn so với lợi ích có thể mang lại (Giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú). Các yếu tố chính bao gồm:

- Đặc điểm người bệnh: Tuổi trên 40-45, kỳ vọng sống thêm hạn chế bởi tuổi cao hay những bệnh lý kết hợp, các tình trạng hiện tại có thể làm tăng nguy cơ độc tính của xạ trị.

- Các kết quả phân tích về giải phẫu bệnh cho thấy khối u có nguy cơ tái phát tại chỗ – tại vùng thấp: Khối u T1, không có hình ảnh xâm nhập mạch máu – bạch mạch trên vi thể, di căn duy nhất 1 hạch, tổn thương di căn hạch nhỏ, đáp ứng tốt với điều trị tân bổ trợ.

- Đặc điểm sinh học của khối u cho phép dự báo kết quả điều trị tốt, đáp ứng với các liệu pháp toàn thân và tiên lượng sống thêm khả quan. Ví dụ: Độ mô học thấp, thụ thể nội tiết dương tính mạnh…

(Loại khuyến cáo: Đồng thuận các chuyên gia; Chất lượng bằng chứng: Trung bình; Mức độ khuyến cáo: Trung bình).

Câu hỏi lâm sàng 2: Chỉ định xạ trị bổ trợ sau mổ cắt tuyến vú có cần thiết cho những trường hợp ung thư vú T1-2, di căn hạch cửa và không vét hạch nách?

Với những trường hợp khối u T1-2, không có bằng chứng di căn hạch trên lâm sàng, chỉ định sinh thiết hạch cửa được lựa chọn khá phổ biến hiện nay trong phẫu thuật triệt căn ung thư vú, khi đó, thì vét hạch nách sẽ được bỏ qua nếu hạch cửa âm tính.

Xu hướng bỏ qua vét hạch nách cho cả những trường hợp di căn 1-2 hạch cửa đang là một đề tài tranh luận sôi nổi hiện nay. Lựa chọn này dựa chủ yếu trên cơ sở ngoại suy từ kết quả các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên so sánh hiệu quả của xạ trị bổ trợ tại toàn bộ tuyến vú có/không có xạ trị vùng hạch nách ở các bệnh nhân ung thư vú được phẫu thuật bảo tồn trước đó.

(Loại khuyến cáo: Đồng thuận các chuyên gia; Chất lượng bằng chứng: Thấp; Mức độ khuyến cáo: Trung bình).

Câu hỏi lâm sàng 3: Chỉ định xạ trị bổ trợ sau mổ cắt tuyến vú có cần thiết cho những trường hợp ung thư vú giai đoạn lâm sàng I hoặc II đã trải qua điều trị tân bổ trợ?

Những bệnh nhân có tổn thương di căn hạch nách, còn tồn tại sau liệu trình điều trị trước mổ (Không đạt được đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học), nên nhận được xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến vú.

Những dữ liệu quan sát cho thấy nhóm bệnh nhân chưa có bằng chứng di căn hạch trên lâm sàng hoặc đạt được đáp ứng hoàn toàn tại hạch trên vi thể có nguy cơ thấp tái phát tại chỗ – tại vùng sau liệu trình điều trị tân bổ trợ và phẫu thuật. Hiện nay, khi chưa có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo chỉ định xạ trị bổ trợ đối với những trường hợp này, các chuyên gia ủng hộ việc thực hiện các thử nghiệm lâm sàng nhằm tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề này.

(Loại khuyến cáo: Đồng thuận các chuyên gia; Chất lượng bằng chứng: Thấp; Mức độ khuyến cáo: Yếu).

Câu hỏi lâm sàng 4: Khi chỉ định xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến vú cho những trường hợp khối u T1-2, di căn 1-3 hạch nách, thể tích bia cho xạ trị hạch vùng có nên bao gồm nhóm vú trong và thượng đòn – đỉnh hố nách?

Các chuyên gia khuyến cáo thể tích xạ trị hạch vùng trong xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật cắt tuyến vú những trường hợp khối u T1-2, có di căn 1-3 hạch nách, nên bao gồm nhóm vú trong, thượng đòn – đỉnh hố nách bên cạnh thể tích thành ngực/vú tạo hình.

Dù vậy, để có thể chỉ định thể tích xạ trị tối ưu cho những trường hợp cụ thể (Thành ngực/vú tạo hình đơn thuần hay thành ngực/vú tạo hình + một vài/tất cả các nhóm hạch vùng), các dữ liệu bằng chứng cho đến nay vẫn chưa đầy đủ và còn đòi hỏi thêm những nghiên cứu mới.

----Nguồn bài viết từ website: ungthuhoc.vn------

Đăng ký khám, tư vấn

Tại sao nên chọn bệnh viện đa khoa Nguyenvanthai

Bệnh viện đa khoa nhiều năm kinh nghiệm.
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành
Cơ sở vật chất hiện đại
Áp dụng thanh toán bảo hiểm y tế lên tới 100%
Quy trình khám chữa bệnh nhanh chóng
Chi phí khám chữa bệnh hợp lý.

Tin cùng chuyên mục

QUẢN LÝ VÀ THEO DÕI POLYP TÚI MẬT

Chiến lược quản lý polyp túi mật tối ưu vẫn là một ẩn số trên thực hành lâm sàng. Polyp túi mật được phát hiện khá thường xuyên ở người trưởng thành qua siêu âm ổ bụng. Mặc dù ung thư túi mật không phải là một chẩn đoán thường gặp, chẩn đoán sớm là điểm mấu chốt quyết định cơ hội điều trị thành công, khi tiên lượng bệnh trở nên rất xấu ở giai đoạn tiến triển.
Ngày 2022-09-30 20:49:46

U CARCINOID LÀ GÌ

U carcinoid là u có nguồn gốc từ các tế bào thần kinh nội tiết và chuyển dạng từ các tế bào gốc nguyên thủy ở thành ruột, tuy nhiên chúng có thể xuất phát từ các cơ quan khác như: phổi, trung thất, tuyến ức, gan, tụy, phế quản, buồng trứng, tuyến tiền liệt, và thận.
Ngày 2022-09-29 23:13:23

UNG THƯ BIỂU MÔ ĐƯỜNG BÀI XUẤT VÙNG ĐÀI BỂ THẬN VÀ NIỆU QUẢN

Ung thư đang là một thách thức sức khỏe toàn cầu. Theo GLOBOCAN 2018, ung thư là 1 trong 2 nguyên nhân thường gặp nhất gây tử vong trước tuổi 70 ở 91 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam [1]. Trong đó, ung thư biểu mô đường bài xuất hệ tiết niệu (gọi tắt là ung thư đường bài xuất) vùng đài bể thận và niệu quản không phải là một loại ung thư biểu mô thường gặp, tuy chi chiếm 5% số ca ung thư biểu mô đường niệu tại Hoa Kỳ nhưng đang có xu hướng tăng trong thời gian gần đây.
Ngày 2022-09-29 00:33:54

SINH THIẾT HẠCH CỬA TRONG UNG THƯ VÚ

Hạch cửa được định nghĩa là những hạch bạch huyết đầu tiên nhận dẫn lưu bạch huyết từ khu vực khối ung thư nguyên phát, do đó, có nguy cơ cao nhất các tế bào ung thư di căn đến theo đường bạch mạch. Hiện nay, sinh thiết hạch cửa (STHC) là phương pháp khảo sát tình trạng hạch nách được khuyến cáo đối với những trường hợp giai đoạn sớm (T1/T2 đơn ổ và không nghi ngờ di căn hạch nách trên lâm sàng).
Ngày 2022-09-27 00:29:31

CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG SAU MỔ UNG THƯ TẾ BÀO GAN NGUYÊN PHÁT | PHẦN II

Số bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm HBV đã tăng lên 280 triệu trên toàn thế giới [11]. Nhiễm HBV là một yếu tố nguy cơ của HCC [27] và cắt gan là phương pháp điều trị triệt căn của bệnh lý này. Trong y văn, đã có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ của tái phát sau cắt gan do HCC ở các bệnh nhân HBV dương tính nhưng vẫn chưa đánh giá tình trạng nhiễm virus trong hầu hết nghiên cứu. Hơn nữa, đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân có tình trạng nhiễm virus khác nhau.
Ngày 2022-09-25 22:11:12

CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG SAU MỔ UNG THƯ TẾ BÀO GAN NGUYÊN PHÁT | PHẦN I

Ung thư tế bào gan nguyên phát (Hepatocellular carcinoma: HCC) là một trong 5 loại ung thư hay gặp nhất. Nguyên nhân gây bệnh thực sự đến nay vẫn chưa được sáng tỏ. Tuy nhiên qua quan sát thực tế và nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho biết có nhiều yếu tố liên quan tới HCC như xơ gan, viêm gan virus B, viêm gan virus C, sán lá gan, rượu, thuốc lá, chất Aflatoxin bài tiết từ nấm Aspergillus flavus (có trong lạc, ngô, mì bị mốc), chất phóng xạ (Dioxyde de thorium), Dioxine.
Ngày 2022-09-24 21:42:20